Thử nghiệm tính di động

1505

Thử nghiệm tính di động để xác định xem một vi sinh vật có khả năng di động hay không. Giúp phân biệt Salmonella spp. (+) với S. pullorum (-), S. gallinarium (-) và một số trực khuẩn gram (-) khác; Vibrio (+) với Actinobacillus (-); E. coli sinh hơi (+) với E. coli không sinh hơi (-); Enterobacter (thường +) với Klebsiella (-); Bacillus anthracis (-) với Bacillus spp. khác (thường +).

Thử nghiệm tính di động là gì

Vi sinh vật di động chủ yếu nhờ các lông (tiên mao, chu mao…). Lông thường có ở các vi khuẩn hình que nhưng cũng có ở cầu khuẩn có khả năng di động.

Vi khuẩn di động có một hoặc nhiều lông, vị trí lông đổi tùy loài và điều kiện nuôi cấy. Đôi khi vi khuẩn di động sinh ra những dạng không di động. Những dạng này thường ổn định và ít khi phục hồi lại thành dạng di động.

Các dạng không di động không bao giờ có lông.

Phương pháp thử

Môi trường: Môi trường thạch mềm (với nồng độ thạch thường dùng là 4-5 g/l).

Rót môi trường vào ống nghiệm (5 ml/ống), hấp 121°C 15 phút.

Bảo quản ở 4-10°C.

Dùng kim cấy lấy khuẩn lạc từ môi trường KIA đã ủ 18-24 giờ cấy.

Đâm xuyên vào tâm môi trường trong ống nghiệm tới độ sâu khoảng 2 cm.

Ủ môi trường ở 37°C/24-48 giờ, nếu âm tính ủ tiếp ở 21-25oC/ 5 ngày.

Chú ý

Nhiệt độ ủ là yếu tố cực kỳ quan trọng vì nhiều vi sinh vật di động ở 15-25°C. Nhưng không di động ở nhiệt độ 37°C là nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển của chúng.

Nếu nghi ngờ một vi sinh vật có thể di động ở nhiệt độ thấp hơn. Hãy cấy đồng thời 2 ống nghiệm và ủ ở 2 chế độ nhiệt khác nhau.

Khi cần có thể dùng các muối tetrazolium trong môi trường thử tính di động. Tuy nhiên các chất này có tính ức chế đối với vài loại vi sinh vật.

Triphenyltetrazolium chloride (TTC) thường được pha trước với nồng độ 1% (dung dịch nước). Thanh trùng bằng màng lọc khuẩn 0,45 km rồi bổ sung vào môi trường đã thanh trùng.

Cũng có thể đưa TTC vào môi trường với nồng độ 0,05 g/1 trước khi hấp môi trường.

Việc bổ sung TTC giúp phát hiện tính di động dễ dàng hơn trong trường hợp khó đọc kết quả.

Có tài liệu cho rằng TTC có khả năng làm giảm tối đa sai sót khi đọc và loại trừ nhu cầu dùng ống chứng không cấy.

TTC vốn không màu nhưng khi vi sinh vật phát triển. Nó thâm nhập vào tế bào và được khử thành một sắc tố màu đỏ không tan là formazan. Màu đỏ chỉ xuất hiện tại những nơi trong mối trường có vi sinh vật phát triển.

Đọc kết quả

Môi trường thạch mềm

Dương tính (di động)

Vi sinh vật di động rời khỏi đường cấy phân tán vào môi trường và làm đục môi trường. Có thể có những nhánh mờ như rễ phụ tỏa ra do vi sinh vật phát triển.

Âm tính (không di động)

Vi sinh vật chỉ phát triển dọc theo đường cấy, môi trường xung quanh vẫn trong.

Đối chứng (không cấy): không có vi sinh vật phát triển, môi trường vẫn trong.

Môi trường thạch mềm có TTC

Dương tính (di động): vi sinh vật tạo một vùng đục màu đỏ lan tỏa vào môi trường.

Âm tính (không di động): vi sinh vật tạo màu đỏ dọc theo đường cấy đâm xuyên. Môi trường xung quanh vẫn trong.

Đối chứng (không cấy): không có vi sinh vật phát triển, môi trường vẫn trong.

  • Vi khuẩn âm tính sau 48 giờ ủ ở 37°C cần được ủ ở 21- 25°C /5 ngày. Để khẳng định là không có khả năng di động.
  • Nếu khó đọc kết quả về tính di động cần so sánh với ống chứng không cấy.
  • Dùng TTC có thể giúp cho việc đọc được dễ dàng hơn. Nếu vẫn nghi ngờ cần tiến hành làm tiêu bản giọt treo. Bằng cách dùng khuyên cấy dày từ dịch nuôi cấy sau 18-24 giờ ủ.
  • Sự di động của vi sinh vật được quan sát tốt nhất trong tiêu bản giọt treo. Nếu tế bào di động, chúng vận động một cách tích cực theo các hướng khác nhau dưới trường nhìn của kính hiển vi.

Lưu ý khi thử nghiệm tính di động

  • Cơ quan di chuyển của vi sinh vật (lông) có bản chất protein và có thể biến tính ở nhiệt độ cao. Thể nuôi cấy bị làm nóng trước khi thử có thể sinh kết quả âm tính giả.
  •  Khó xác định tính di động ở vi sinh vật kỵ khí. Chỉ kết quả dương tính (di động) mới có một ý nghĩa nào đó.
  • Lông của vi sinh vật có thể bị hủy hay gãy khi lắc mạnh ống thử đã cấy. Có thể sinh phản ứng dương tính yếu hoặc âm tính giả.
  • Vi sinh vật di động làm chủng gốc thời gian dài có xu hướng mất đi tính di động.
  • Nhiều vi sinh vật di động ở nhiệt độ này song không di động ở nhiệt độ khác.
  • Trong tiêu bản giọt treo chỉ có thể xác định được khả năng di động đối với các tế bào có lông roi (tiên mao). Hoặc chuyển động nhờ sự co thắt của cơ thể.
  • Ngay những vi sinh vật di động mạnh khi già cũng mất khả năng di động. Vì vậy khi không phát hiện sự di động ở một chủng sau 24 giờ ủ. Cần quan sát các tế bào ở lứa tuổi non hơn, chẳng hạn sau 12- 15 giờ nuôi cấy.
  • Đôi khi một chủng di động có thể nhất thời rơi vào tình trạng không di động. Chỉ còn một ít vi khuẩn là có khả năng di động. Trong trường hợp này vi sinh vật có thể chỉ tạo nên vài “rễ phụ” nhỏ thường bị bỏ qua không được coi như một chỉ thị cho tính di động.

Cần tư vấn, đào tạo, thiết kế phòng vi sinh, xây dựng ISO 17025, ISO 15189 mời gọi Tel 0919 099 777. Email: tuvandaotaotriphuc@gmail.com

Xem thêm

Thử nghiệm catalase

Thử nghiệm citrate

Thử nghiệm khả năng đông huyết tương

Thử nghiệm Indol

Nguồn: Biochemical tests for indentification of medical bacterial (Jean F.Mactaddin)